HOUSE VIEW · CỔ PHIẾU HPG

House View · Nghiên cứu bởi Vega

HPG sau quý doanh thu tăng 53%: lợi thế lợi suất có, nhưng lợi nhuận quý tới nghiêng về tăng chậm lại

Quan điểm về triển vọng lợi nhuận quý III/2026, đặt trong tương quan giữa lợi thế sản lượng, biên lợi nhuận và các phản ứng giá trong lịch sử.

Cổ phiếu Lợi nhuận Lợi suất Thép

LUẬN ĐIỂM CỐT LÕI

  • Lợi nhuận quý III/2026 có thể tiếp tục tăng so với cùng kỳ, nhưng thấp hơn quý II nếu so theo quý liền trước.
  • Quý II, doanh thu tăng 53,11% và lợi nhuận sau thuế tăng 50,65% so với cùng kỳ.
  • Biên gộp cao hỗ trợ lợi nhuận; giá bán yếu giới hạn khả năng chuyển lợi thế đầu vào thành tăng trưởng tiếp theo.
Tôi nghiêng về khả năng lợi nhuận HPG quý III/2026 vẫn tăng so với cùng kỳ, nhưng thấp hơn quý II nếu so theo quý liền trước. Đây là quan điểm về triển vọng lợi nhuận, không phải dự báo hướng giá cổ phiếu: lịch sử phản ứng giá sau các quý doanh thu tăng mạnh có kết quả phân tán, còn các dự báo lợi nhuận hiện có cho thấy tăng trưởng tiếp diễn nhưng giảm tốc.
53,11% Tăng trưởng doanh thu quý II/2026 so với cùng kỳ
50,65% Tăng trưởng lợi nhuận sau thuế quý II/2026 so với cùng kỳ
18,88% Biên lợi nhuận gộp quý II/2026
39,6% Dự báo tăng trưởng lãi ròng quý III/2026 của MBS

Sau các quý doanh thu tăng mạnh, lợi suất HPG trung vị dương nhưng kết quả phân tán

Doanh thu quý II/2026 tăng 53,11% so với cùng kỳ. Tính trên cùng mẫu 53 quý từ 2013Q1 đến 2026Q1, mức này nằm ở phân vị 84,91%; ngưỡng top 25% tăng trưởng doanh thu cao nhất là 40,28%. Cùng khoảng lịch sử đó được dùng để xác định cả phân vị, ngưỡng top 25% và các quý tương tự. Nhóm tương tự được xác định là tăng trưởng nằm trong khoảng ±5 điểm phần trăm quanh mức quý II/2026, gồm bốn kỳ: 2013Q4, 2014Q2, 2017Q3 và 2021Q3.

Trong bốn kỳ tương tự, HPG tăng giá trong hai lần. Lợi suất HPG trung vị ba tháng sau mỗi kỳ là +10,21%, so với −0,56% của VN-Index; lợi suất vượt chỉ số trung vị là +11,75 điểm phần trăm. Kết quả phân tán: lợi suất HPG từ −13,81% đến +60,43%, còn mức vượt VN-Index từ −13,49 đến +37,01 điểm phần trăm. Mẫu nhỏ và chỉ một nửa số kỳ HPG tăng giá, nên trung vị dương không đồng nghĩa kết quả thường xuyên tích cực.

Nhóm kỳ doanh thu Số kỳ HPG tăng giá Lợi suất HPG trung vị VN-Index trung vị HPG vượt VN-Index trung vị
Tăng trưởng trong ±5 điểm % quanh 2026Q2 4 50,0% +10,21% −0,56% +11,75 điểm %
25% kỳ tăng trưởng doanh thu cao nhất 14 64,3% +10,19% +7,60% +2,60 điểm %

Ở nhóm rộng hơn gồm 14 quý có tăng trưởng doanh thu thuộc top 25% của cùng mẫu lịch sử, HPG tăng giá trong 9/14 lần. Lợi suất vượt VN-Index trung vị là +2,60 điểm phần trăm; mức thấp nhất là −21,32 điểm phần trăm. Vì vậy, điều có thể nói từ phép so sánh này là lợi suất vượt chỉ số trung vị dương, không phải HPG thường xuyên vượt VN-Index. Các con số lợi suất lịch sử chỉ mô tả phản ứng giá trong những nhóm kỳ đã chọn; chúng không tự xác lập hướng đi cổ phiếu sắp tới.

Lợi nhuận quý II vẫn tăng mạnh, nhưng tăng chậm hơn doanh thu

Quý II/2026, HPG ghi nhận doanh thu 55.557 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 6.424 tỷ đồng. Lợi nhuận tăng 50,65% so với cùng kỳ—vẫn là mức tăng mạnh—nhưng thấp hơn tốc độ tăng doanh thu 53,11% khoảng 2,46 điểm phần trăm. HPG đã bán được nhiều hơn, song lợi nhuận chưa tăng nhanh hơn doanh thu.

Biên lợi nhuận gộp quý II đạt 18,88%, cao hơn trung vị 5 năm 13,66% và nằm ở phân vị 85 trong lịch sử của chính HPG. Biên cao đang hỗ trợ lợi nhuận; đồng thời, mức hiện tại cao hơn đáng kể trung vị lịch sử, nên khả năng tiếp tục mở rộng biên không thể được mặc định.

Không nên dùng mức tăng lợi nhuận quý I làm đường cơ sở cho các quý sau. LNST quý I/2026 đạt 9.056 tỷ đồng, tăng khoảng 170% so với cùng kỳ, nhưng trong quý có 4.916 tỷ đồng lãi từ bán, thanh lý khoản đầu tư—bằng 54,28% LNST báo cáo nếu so trực tiếp hai khoản mục. Trừ thẳng khoản lãi này khỏi LNST để minh họa độ nhạy, không điều chỉnh thuế, phần còn lại vẫn cao hơn cùng kỳ khoảng 23,59%; đây chỉ là phép thử thận trọng, không phải con số lợi nhuận chuẩn hóa. Sang quý II, lãi bán khoản đầu tư chỉ còn 13,5 tỷ đồng, trong khi LNST vẫn tăng 50,65%. Vì vậy, quý II cho tín hiệu hoạt động lặp lại tốt hơn quý I, nhưng cũng cho thấy tốc độ tăng lợi nhuận đã hạ khỏi mức đột biến.

Sản lượng và công suất vẫn là lực đỡ: Dung Quất 2 được ghi nhận vận hành ở mức 85% công suất trong quý II, với sản lượng HRC tiêu thụ 1,9 triệu tấn. Nhưng biên thép tham chiếu HRC–quặng–than đang ở phân vị 90 của 5 năm, trong khi quặng sắt đã giảm 7,6% trong ba tháng. Chiều ngược lại, giá thép D10 Hòa Phát giảm 6,0% trong ba tháng và HRC Trung Quốc gần như đi ngang, giảm 0,2%. Đầu vào rẻ hơn hỗ trợ chênh lệch, nhưng giá bán yếu cũng giới hạn khả năng chuyển toàn bộ lợi thế đó thành tăng trưởng lợi nhuận tiếp theo.

Biên lợi nhuận gộp HPG, 2024Q3–2026Q2
12141618Q3/2024Q4/2024Q1/2025Q2/2025Q3/2025Q4/2025Q1/2026Q2/2026Q3/2024: 13,79%Q4/2024: 12,39%Q1/2025: 14,29%Q2/2025: 18,16%Q3/2025: 16,54%Q4/2025: 13,52%Q1/2026: 15,69%Q2/2026: 18,88%Q2/2026: 18,88%18,88%
12141618Q3/2024Q1/2025Q4/2025Q2/2026Q3/2024: 13,79%Q4/2024: 12,39%Q1/2025: 14,29%Q2/2025: 18,16%Q3/2025: 16,54%Q4/2025: 13,52%Q1/2026: 15,69%Q2/2026: 18,88%Q2/2026: 18,88%18,88%

Dự báo quý III vẫn tăng so với cùng kỳ, nhưng thấp hơn quý II theo quý

Dự báo lợi nhuận quý III được nêu ở đây nghiêng về tăng trưởng so với cùng kỳ, nhưng không cho thấy một bước tăng tốc mới. MBS ước doanh thu quý III đạt 55.200 tỷ đồng và lãi ròng 5.600 tỷ đồng, tương ứng mức tăng khoảng 50,0% và 39,6% so với quý III/2025. So với kết quả quý II/2026, các con số này hàm ý doanh thu giảm khoảng 0,6% và lợi nhuận giảm khoảng 12,8% theo quý: 5.600 ÷ 6.424 − 1 ≈ −12,8%. Mức tăng lợi nhuận 39,6% vẫn phù hợp với kịch bản lợi nhuận tiếp tục tăng mạnh so với cùng kỳ, nhưng hàm ý giảm tốc so với mức tăng 50,65% của quý II.

Các dự báo cả năm cũng cho thấy kỳ vọng tăng nhưng còn phân tán. KAFI dự báo LNST năm 2026 là 21.393 tỷ đồng, còn MBS dự báo 25.900 tỷ đồng. Tổng LNST bốn quý năm 2025 là khoảng 15.515 tỷ đồng; hai dự báo riêng lẻ này hàm ý mức tăng năm 2026 lần lượt khoảng 37,9% và 67,0%. Khoảng chênh 4.507 tỷ đồng giữa hai dự báo không tạo thành một mức đồng thuận duy nhất.

Nửa đầu năm 2026, LNST báo cáo cộng lại khoảng 15.480 tỷ đồng, gần bằng cả năm 2025. Con số này xác nhận sức kiếm tiền hiện tại đã cải thiện mạnh, nhưng quý I có khoản lãi bán đầu tư lớn và biên gộp quý II đang cao hơn đáng kể trung vị 5 năm. Tôi không lấy mức tăng 170% của quý I để ngoại suy; dự báo quý III tăng 39,6% so với cùng kỳ hợp với cách nhìn lợi nhuận còn tăng nhưng giảm tốc, nhất là khi so theo quý liền trước. Hai dự báo năm được nêu không đủ để xác định một mức đồng thuận đáng tin cậy hoặc suy ra điều gì đã được phản ánh vào giá cổ phiếu; kết luận của tôi ở đây giới hạn ở triển vọng lợi nhuận.

Kịch bản cơ sở là lợi nhuận tiếp tục tăng năm trên năm, còn rủi ro nằm ở biên lợi nhuận

Kịch bản cơ sở của tôi là lợi nhuận quý III vẫn cao hơn cùng kỳ nhờ sản lượng, Dung Quất 2 và mặt bằng chênh lệch thép–nguyên liệu còn thuận lợi, nhưng thấp hơn quý II do quý II đã có biên gộp cao và lợi nhuận quý I–II tạo nền so sánh lớn. Dự báo MBS tăng trưởng lợi nhuận 39,6% so với cùng kỳ phù hợp với kịch bản này: vẫn tăng mạnh, nhưng thấp hơn mức tăng 50,65% của quý II. Kịch bản tích cực cần sản lượng tiếp tục tăng và biên gộp giữ được phần lớn mức cao hiện tại; kịch bản tiêu cực là giá bán giảm nhanh hơn chi phí đầu vào, khiến biên co lại và lợi nhuận giảm tốc mạnh hơn dự báo. Tôi nghiêng về lợi nhuận còn tăng so với cùng kỳ nhưng giảm tốc; rủi ro giảm tốc nặng hơn cơ hội tiếp tục mở rộng biên.

Điều thường bị đọc thiếu là “doanh thu tăng mạnh” không đồng nghĩa “lợi nhuận tăng nhanh hơn”, càng không đảm bảo cổ phiếu sẽ vượt chỉ số. Trong cùng mẫu lịch sử 2013Q1–2026Q1, tăng trưởng doanh thu quý II/2026 nằm ở phân vị 84,91%, còn biên gộp quý II ở phân vị 85 trong lịch sử HPG. Lợi thế sản lượng là có thật, nhưng kỳ vọng rằng doanh thu, biên và lợi nhuận cùng tăng tốc đòi hỏi nhiều hơn những gì riêng con số doanh thu chứng minh. Bài viết này đưa quan điểm về lợi nhuận, không kết luận cổ phiếu HPG sẽ tăng hay giảm; các dự báo được nêu cũng không xác lập được một mức đồng thuận thị trường để đối chiếu với giá.

Điều gì sẽ khiến tôi đổi quan điểm

Các mốc trên là những điểm đối chiếu với kết quả quý II, trung vị lịch sử và dự báo đang được nêu, không phải ngưỡng định lượng độc lập để phân loại kết quả. Lợi suất lịch sử trong bài đo ba tháng sau ngày proxy gần thời điểm công bố: ngày kết thúc quý cộng 45 ngày với quý I–III và 90 ngày với quý IV.