Nghiên cứu bởi Vega
Lãi suất huy động cao: Biên lãi ròng (NIM) ngân hàng nghiêng về co lại trong Q4/2026
Đánh giá diễn biến NIM, áp lực huy động và khả năng chống chịu của các ngân hàng trong quý IV/2026.
Nghiên cứu bởi Vega
Đánh giá diễn biến NIM, áp lực huy động và khả năng chống chịu của các ngân hàng trong quý IV/2026.
Nếu lãi suất huy động khách hàng tiếp tục neo cao trong quý IV, biên lãi ròng (NIM) toàn ngành có khả năng co lại nhiều hơn là phục hồi bền; mức tin cậy trung bình vì nhịp phục hồi quý II chưa xóa được xu hướng giảm và nguồn vốn vẫn chịu sức ép. Trong nhóm ngân hàng lớn, MBB có bằng chứng tổng hợp rõ nhất về khả năng giữ biên, TCB đứng kế tiếp; VCB và CTG nổi bật hơn nếu chỉ xét mức cải thiện NIM so với cùng kỳ.
Mức tăng theo quý là có thật, nhưng chưa đủ để kết luận ngành đã vượt đáy NIM. NIM trung vị 28 ngân hàng đạt 2,65% trong Q2/2026, tăng 0,14 điểm phần trăm so với Q1; tuy nhiên vẫn thấp hơn 0,19 điểm phần trăm so với Q2/2025. Nói cách khác, Q2 mới lấy lại một phần phần biên đã mất, chứ chưa trở về mặt bằng một năm trước.
Độ rộng của nhịp bật cũng dễ gây lạc quan quá mức: 21/28 ngân hàng tăng NIM theo quý, nhưng 19/28 vẫn giảm so với cùng kỳ. Xu thế dài hơn cũng chưa đổi chiều: trong 22 quý tính đến Q2/2026, NIM trung vị có xu hướng giảm bình quân khoảng 0,02 điểm phần trăm mỗi quý. Mức tăng 0,14 điểm phần trăm trong Q2 chưa đủ để xác nhận NIM sẽ tiếp tục nới trong quý sau; xem một quý tăng là dấu hiệu xu hướng đã đảo chiều là một rủi ro diễn giải.
Sức ép vốn được thể hiện rõ hơn qua chênh lệch tăng trưởng: đến ngày 3/9, tín dụng toàn hệ thống tăng 9,98% từ đầu năm, trong khi huy động tăng 8,33% — tín dụng đi nhanh hơn 1,65 điểm phần trăm. Nếu khoảng cách này kéo dài, ngân hàng phải cạnh tranh mạnh hơn để giữ tiền gửi, làm chi phí vốn bình quân khó giảm nhanh.
Một số mức lãi suất tiền gửi được chào trong tháng 9 lên khoảng 9,0–9,35%/năm tại một số ngân hàng và sản phẩm. Đây là các mức chào chọn lọc, không phải bình quân huy động toàn ngành, nhưng cho thấy cuộc đua hút vốn đang hiện hữu. Lãi suất qua đêm liên ngân hàng từng được ghi nhận ở 7% ngày 21/9. NHNN bơm ròng 34.329 tỷ đồng qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO) trong 5 phiên đến 25/9. Các tín hiệu này cho thấy thanh khoản biến động và được hỗ trợ theo phiên, chứ chưa chứng minh chi phí huy động của ngân hàng đã hạ bền.
Cơ chế gây sức ép khá trực tiếp: tiền gửi đáo hạn hoặc cần tái huy động phải trả giá cao hơn, còn lợi suất trên danh mục cho vay và tài sản sinh lãi thường không điều chỉnh đồng thời. Nếu giá vốn tăng trước giá cho vay, NIM sẽ bị ép. Tăng trưởng tín dụng vẫn có thể giúp tổng thu nhập lãi tăng, nhưng không tự động làm biên lãi phục hồi.
Điểm khác biệt không chỉ là ngân hàng nào có NIM cao, mà là ngân hàng nào vừa có nguồn tiền gửi chi phí thấp, vừa giữ được diễn biến NIM gần đây. Tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn (CASA) trung vị toàn ngành chỉ 10,84%; MBB và TCB lần lượt đạt 33,62% và 33,81%, xấp xỉ 3,1 lần trung vị. CASA cao có thể giúp giảm độ nhạy của chi phí vốn trước cạnh tranh lãi suất tiền gửi có kỳ hạn, dù tự nó không bảo đảm NIM sẽ không giảm.
| MBB | 4,04% | +0,34 điểm % | 0,00 điểm % | 33,62% |
| TCB | 3,50% | +0,30 điểm % | -0,11 điểm % | 33,81% |
| ACB | 2,97% | +0,25 điểm % | +0,04 điểm % | 20,03% |
| VCB | 2,94% | +0,11 điểm % | +0,32 điểm % | 32,35% |
| CTG | 2,82% | +0,09 điểm % | +0,32 điểm % | 22,72% |
| HDB | 3,84% | +0,30 điểm % | -1,41 điểm % | 10,81% |
| VPB | 5,00% | -0,15 điểm % | -0,13 điểm % | 11,49% |
| LPB | 2,60% | -0,01 điểm % | -0,35 điểm % | 6,31% |
MBB có tổ hợp thuyết phục nhất: NIM 4,04%, cao hơn trung vị ngành 1,39 điểm phần trăm; tăng 0,34 điểm phần trăm theo quý và gần như không đổi so với cùng kỳ. TCB có CASA nhỉnh hơn một chút và NIM bật 0,30 điểm phần trăm theo quý, nhưng vẫn thấp hơn 0,11 điểm phần trăm so với cùng kỳ. Vì vậy, MBB là cái tên nổi bật nhất về khả năng giữ biên trong bằng chứng hiện có, còn TCB là ứng viên sát phía sau.
Nếu tiêu chí là mức cải thiện so với cùng kỳ thay vì bộ đệm vốn, VCB và CTG dẫn đầu nhóm này, cùng tăng khoảng 0,32 điểm phần trăm. Tỷ lệ nợ xấu (nhóm 3–5) trong các so sánh dưới đây đều là Q2/2026: VCB ở mức 0,61%, ACB 1,03% và VPB 3,28%, so với trung vị ngành 2,02%. VCB còn có CASA 32,35%, nhưng NIM Q2/2026 ở mức 2,94% và nhịp tăng theo quý chỉ 0,11 điểm phần trăm. CTG có NIM 2,82%, tăng 0,09 điểm phần trăm theo quý. ACB cũng đáng chú ý: NIM tăng 0,25 điểm phần trăm theo quý và nhích 0,04 điểm phần trăm so cùng kỳ.
Có một cách đọc cần tránh: ngân hàng có NIM tuyệt đối cao nhất không nhất thiết là ngân hàng chống chịu lãi suất huy động tốt nhất. VPB có NIM 5,00%, cao nhất trong nhóm so sánh, nhưng giảm 0,15 điểm phần trăm theo quý; CASA chỉ 11,49% và nợ xấu 3,28%, cao hơn trung vị ngành 2,02%. Mức biên cao hiện tại không đồng nghĩa với bộ đệm nguồn vốn dày hay biên đang ổn định.
Trong lần chuyển tiếp Q1 sang Q2/2026, 85,7% ngân hàng thuộc nhóm CASA cao tăng NIM, so với 64,3% ở nhóm CASA thấp; nhưng mức tăng NIM trung vị của nhóm CASA cao chỉ 0,12 điểm phần trăm, thấp hơn 0,19 điểm phần trăm của nhóm CASA thấp. Quan sát một lần chuyển tiếp này chưa chứng minh nhóm CASA cao giữ NIM tốt hơn qua nhiều quý; vì vậy, không thể dùng riêng kết quả này để xác nhận CASA cao tạo lợi thế giữ biên bền vững.
Trong điều kiện lãi suất huy động tiếp tục neo cao trong Q4/2026, kịch bản nghiêng nhất là NIM trung vị giảm hơn 0,05 điểm phần trăm so với Q3, với xác suất chủ quan 60%. Hai khả năng còn lại, cũng trong điều kiện lãi suất huy động còn cao, là NIM đi ngang trong biên ±0,05 điểm phần trăm (25%) hoặc tăng hơn 0,05 điểm phần trăm (15%). Đây là các xác suất có điều kiện, không phải xác suất vô điều kiện của mọi đường diễn biến lãi suất; dự báo tập trung vào hướng thay đổi, không phải mức NIM tuyệt đối.
Rủi ro giảm biên vì vậy nhỉnh hơn cơ hội phục hồi thêm, nhưng không đồng nghĩa lợi nhuận toàn ngành chắc chắn giảm: tăng trưởng tín dụng, thu nhập ngoài lãi và chi phí dự phòng còn có thể làm kết quả kinh doanh đi theo hướng khác. Nhận định này nói về biên lãi, không phải dự báo lợi nhuận tổng thể của từng ngân hàng.
Ba tín hiệu cụ thể có thể làm suy yếu luận điểm co NIM:
Các xác suất trên là đánh giá có điều kiện, không phải xác suất thống kê; lãi suất liên ngân hàng chỉ là thước đo sức ép thanh khoản chứ không thay cho chi phí huy động, và chưa có NIM Q3 để gán mức tuyệt đối cho NIM Q4.